Close

Tin tức ngành

June 25, 2019

TCVN 8611:2010 – Phần 1

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 8611:2010

KHÍ THIÊN NHIÊN HÓA LỎNG (LNG) – HỆ THỐNG THIẾT BỊ VÀ LẮP ĐẶT – THIẾT KẾ HỆ THỐNG TRÊN BỜ

Liquefied natural gas (LNG) –  Equipment and installations. Design of onshore installations

Lời nói đầu

TCVN 8611:2010 tương đương có sửa đổi với EN 1473:2007.

TCVN 8611:2010 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 58 Chai chứa khí phối hợp với Viện Dầu khí Việt Nam biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

KHÍ THIÊN NHIÊN HÓA LỎNG (LNG) – HỆ THỐNG THIẾT BỊ VÀ LẮP ĐẶT – THIẾT KẾ HỆ THỐNG TRÊN BỜ

Liquefied natural gas (LNG) –  Equipment and installations. Design of onshore installations

  1. Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn quy định về thiết kế, xây dựng và vận hành các công trình khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trên bờ bao gồm: hệ thống hóa lỏng khí, tồn chứa, hóa hơi, vận chuyển và giao nhận LNG.

Tiêu chuẩn này áp dụng đối với các kho cảng, nhà máy sau:

– Kho cảng (nhà máy) xuất LNG, giới hạn từ vị trí quy định đầu vào của khí đến hệ thống phân phối sản phẩm của tàu;

– Kho cảng (nhà máy) tiếp nhận LNG, giới hạn từ hệ thống phân phối của tàu đến vị trí quy định đầu ra của khí;

– Nhà máy điều phối nhu cầu LNG, nằm trong ranh giới quy định đầu vào và đầu ra của khí.

Mô tả sơ lược về các hệ thống này được nêu trong Phụ lục G.

Tiêu chuẩn này không áp dụng cho kho vệ tinh áp dụng. Kho vệ tinh có sức chứa nhỏ hơn 200 tấn áp dụng tiêu chuẩn EN 13645.

  1. Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau đây là cần thiết khi áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các bản sửa đổi (nếu có).

TCVN 5868:2009 (ISO 9712:2005), Thử không phá hủy – Trình độ chuyên môn và cấp chứng chỉ cá nhân.

TCVN 6700-1 (ISO 9606-1), Kiểm tra chấp nhận thợ hàn – Hàn nóng chảy – Phần 1: Thép.

TCVN 7026 (ISO 7165:1999), Chữa cháy – Bình chữa cháy xách tay – Tính năng và cấu tạo.

TCVN 7027 (ISO 11601:1999), Chữa cháy – Xe đẩy chữa cháy – Tính năng và cấu tạo.

TCVN 7665 (ISO 1460:1992), Lớp phủ kim loại – Lớp phủ kẽm nhúng nóng trên vật liệu chứa sắt – Xác định khối lượng lớp mạ trên đơn vị diện tích.

TCVN 8610 (EN 1160:1997), Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) – Hệ thống thiết bị và lắp đặt – Tính chất chung của LNG.

TCVN 8612 (EN 1474:1997), Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) – Hệ thống thiết bị và lắp đặt – Thiết kế và thử nghiệm cần xuất nhập.

TCVN 8613 (EN 1532:1997), Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) – Hệ thống thiết bị và lắp đặt – Quy trình giao nhận sản phẩm.

TCVN 8614 (EN 12308:1998), Khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) – Hệ thống thiết bị và lắp đặt – Thử nghiệm tính tương thích của các loại vòng đệm được thiết kế cho đầu nối bằng mặt bích trên đường ống LNG.

TCVN 8615-1,2 (EN 14620-1,2:2006), Thiết kế, chế tạo tại công trình bể chứa bằng thép, hình trụ đứng, đáy phẳng dùng để chứa các loại khí hóa lỏng được làm lạnh ở nhiệt độ vận hành từ 0 oC đến – 165 oC – Phần 1: Quy định chung, Phần 2: Các bộ phận kim loại.

TCVN ISO 9001 (ISO 9001), Hệ thống quản lý chất lượng – Các yêu cầu.

EN 571-1, Non destructive testing – Penetrant testing – Part 1: General principles (Kiểm tra không phá hủy – Kiểm tra thẩm thấu – Phần 1: Quy tắc chung).

EN 809, Pumps and pump units for liquids – Common safety requirements (Máy bơm và các bộ phận máy bơm chất lỏng – Yêu cầu an toàn chung).

EN 970, Non-destructive examination of fusion welds – Visual examinatioin (Kiểm tra không phá hủy mối hàn nấu chảy – Kiểm tra bằng mắt thường).

EN 1092-1, Flanges and their joints – Circular flanges for pipes, valves, fittings and accessories, PN designated – Part 1: Steel flanges (Mặt bích và mối nối – Mặt bích tròn cho đường ống, van, khớp nối và phụ kiện, quy định chỉ số áp suất PN – Phần 1: Mặt bích thép).

EN 1127-1, Explosive atmospheres – Explosion prevention and protection – Part 1: Basic concepts and methodology (Môi trường khí gây nổ – Phòng và chống nổ – Phần 1: Khái niệm cơ bản và phương pháp luận).

EN 1435, Non-destructive examination of welds – Radiographic examination of welded joints (Kiểm tra không phá hủy mối hàn – Kiểm tra X quang mối hàn).

EN 1514-1, Flanges and their joints – Dimensions of gaskets for PN – designated flanges – Part 1: Non – metallic flat gaskets with or without inserts (Mặt bích và mối nối – Kích thước của vòng đệm sử dụng cho mặt bích có quy định chỉ số áp suất PN – Phần 1: Vòng đệm phẳng phi kim loại có hoặc không có đệm lót).

EN 1714, Non- destructive examination of welds – Ultrasonic examination of welded joints (Kiểm tra không phá hủy mối hàn – Kiểm tra siêu âm mối hàn).

EN 1776, Gas supply systems – Natural gas measuring stations – Functional requirements (Hệ thống cung cấp khí – Trạm đo lường khí thiên nhiên – Yêu cầu chức năng).

EN 1991-1-2, Eurocode 1: Actions on structures – Part 1-2: General actions – Actions on structures exposed to fire (Tiêu chuẩn Châu Âu 1: Tác động đến kết cấu – Phần 1-2: Tác động chung – Tác động đến kết cấu tiếp xúc với đám cháy).

EN 1992-1-1, Eurocode 2: Design of concrete structures – Part 1-1: General rules and rules for buildings (Tiêu chuẩn Châu Âu 2: Thiết kế kết cấu bê tông – Phần 1-1: Nguyên tắc chung và nguyên tắc cho công trình xây dựng).

EN 1992-1-2, Eurocode 2: Design of conrete structures – Part 1-2: General rules – Structural fire design (Tiêu chuẩn Châu Âu 2: Thiết kế kết cấu bê tông – Phần 1-2: Nguyên tắc chung – Thiết kế kết cấu chịu lửa).

EN 1993-1-1, Eurocode 3: Design of steel structures – Part 1-1: General rules and rules for buildings (Tiêu chuẩn Châu Âu 3: Thiết kế kết cấu thép – Phần 1-1: Nguyên tắc chung và nguyên tắc cho công trình xây dựng).

EN 1993-1-2, Eurocode 3: Design of steel structures – Part 1-2: General rules – Structural fire design (Tiêu chuẩn Châu Âu 3: Thiết kế kết cấu thép – Phần 1-2: Nguyên tắc chung – Thiết kế kết cấu chịu lửa).

EN 1994-1-1, Eurocode 4: Design of composite steel and concrete structures – Part 1-1: General rules and rules for buildings (Tiêu chuẩn Châu Âu 4: Thiết kế kết cấu thép composit và bê tông – Phần 1-1: Nguyên tắc chung và nguyên tắc cho công trình xây dựng).

EN 1994-1-2, Eurocode 4: Design of composite steel and concrete structures – Part 1-2: General rules – Structural fire design (Tiêu chuẩn Châu Âu 4: Thiết kế kết cấu thép composit và bê tông – Phần 1-2: Nguyên tắc chung – Thiết kế kết cấu chịu lửa).

EN 1998-1, Eurocode 8: Design of structures fo earthquake resistance – Part 1: General rules, seismic actions and rules for buildings (Tiêu chuẩn Châu Âu 8: Thiết kế kết cấu chống chịu động đất – Phần 1: Nguyên tắc chung, tác động địa chấn và nguyên tắc cho công trình xây dựng).

EN 1998-5, Eurocode 8: Design of structures for earthquake resistance – Part 5: Foundations, retaining strutures and geotectonical aspects (Tiêu chuẩn Châu Âu 8: Thiết kế kết cấu chống chịu động đất – Phần 5: Nền móng, kết cấu ngăn giữ và khía cạnh địa kiến tạo).

EN 10204, Metallic products – Types of inspection documents (Sản phẩm kim loại – Các loại hồ sơ kiểm định).

EN 12065, Installations and equipment for liquefied natural gas – Testing of foam concentrates designed for generation of medium and high expansion foam and of extinguishing powders used on liquefied natural gas fire (Thiết bị và lắp đặt thiết bị cho khí thiên nhiên hóa lỏng – Kiểm tra nồng độ bọt dùng để tạo bọt giãn nở cao và trung bình và bột chữa cháy cho đám cháy khí thiên nhiên).

EN 12066, Installation and equipment for liquefied natural gas – Testing of insulating linings for liquefied natural gas impounding areas (Thiết bị và Lắp đặt thiết bị cho khí thiên nhiên hóa lỏng – Kiểm tra lớp cách nhiệt của khu vực ngăn tràn khí thiên nhiên hóa lỏng).

EN 12162, Liquid pumps – Safety requirements – Procedure for hydrostatic testing (Bơm chất lỏng – Yêu cầu an toàn – Quy trình thử thủy tĩnh).

EN 12434, Cryogenic vessels – Cryogenic flexible hoses (Bồn chứa lạnh – Ống mềm lạnh).

EN 12567, Industrial valves – Isolating valves for LNG – Specification for suitability and appropriate verification tests (Van công nghệ – Van cô lập dùng cho LNG – Đặc tính kỹ thuật cho sự phù hợp và phép thử thẩm định thích hợp).

EN 13445 (tất cả các phần), Unfired pressure vessels (Bồn chứa chịu áp suất không cháy).

EN 13480 (tất cả các phần), Metallic industrial piping (Đường ống công nghiệp bằng kim loại).

EN 60034-5, Rotating electrical machines – Part 5: Degrees of protection provided by the integral design of rotating electrical machines (IP code) – Classification (IEC 60034-5:2000) (Thiết bị điện chuyển động quay – Phần 5: Các cấp độ bảo vệ được cung cấp bởi thiết kế tích hợp các thiết bị điện chuyển động quay (Mã IP) – Phân loại).

EN 60079-0, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 0: General requirements (IEC 60079-0:2004) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 0: Yêu cầu chung).

EN 60079-1, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 1: Flameproof enclosures “d” (IEC 60079-1:2003) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 1: Vùng chịu lửa “d”).

EN 60079-2, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 2: Pressurized enclosures “p” (IEC 60079-2:2001) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 2: Vùng chịu áp suất “p”).

EN 60079-7, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 7: Increased safety “e” (IEC 60079-7:2003) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 7: An toàn cao “e”).

EN 60079-10, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 10: Classification of hazardous areas (IEC 60079-10:2002) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 10: Phân loại khu vực nguy hiểm).

EN 60079-14, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 14: Electrical installation in hazardous areas (other than mines) (IEC 60079-14:2002) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 14: Lắp đặt điện trong khu vực nguy hiểm (ở ngoài khu vực mỏ)).

EN 60079-17, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 17: Inspection and maintenance of electrical installations in hazardous areas (other than mines) (IEC 60079-17:2002) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 17: Giám định và bảo dưỡng công trình điện trong khu vực nguy hiểm (ở ngoài khu vực mỏ)).

EN 60079-18, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 18: Construction, test and marking of type of protection encapsulation “m” electrical apparatus (IEC 60079-18:2004) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 18: Xây dựng, kiểm tra và ghi nhãn thiết bị điện có vỏ bảo vệ loại “m”).

EN 60079-25, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 25: Intrinsically safe systems (IEC 60079-25:2003) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 25: Hệ thống an toàn thực chất).

EN 60079-26, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 26: Construction, test and marking of group II category 1 G electrical apparatus (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 26: Xây dựng, kiểm tra và ghi nhãn thiết bị điện nhóm II phân loại 1G).

EN 60529, Degrees of protection provided by enclosures (IP code) (IEC 60529:1989) (Cấp độ bảo vệ của các khu vực riêng biệt).

EN 61508-1, Functional safety of electrical/electronic/programmable electronic safety – related system- Part 1: General requirements (IEC 61508-1:1998 + Corrigendum 1999) (Chức năng an toàn của hệ thống an toàn điện/điện tử/điện tử lập trình – Phần 1 : Yêu cầu chung).

ISO 1461, Hot dip galvanized coatings on fabricated iron and steel articles – Specifications and test methods (ISO 1461:1999) (Lớp mạ kẽm nhúng nóng trên vật phẩm bằng thép và sắt – Đặc tính kỹ thuật và phương pháp thử).

ISO 10456, Building materials and products – Procedures for determining declared and design thermal values (ISO 10456:1999) (Vật liệu và sản phẩm xây dựng – Quy trình xác định nhiệt trị khai báo và thiết kế).

ISO 10497, Testing of valves – Fire type – testing requirements (ISO 10497 – 2004) (Thử nghiệm van – Yêu cầu thử kiểu đốt cháy).

ISO 12241, Thermal insulation for building equipment and industrial installations – Calculation rules (ISO 12241:1998) (Cách nhiệt cho thiết bị xây dựng và công trình công nghiệp – Nguyên tắc tính toán).

ISO 12944 (tất cả các phần), Paints and varnishes – Corrosiion protection of steel structures by protective paint systems (ISO 12944:1998) (Sơn và véc ni – Chống ăn mòn cho kết cấu thép bằng hệ thống sơn bảo vệ).

ISO 13709, Centrifugal pumps for petroleum, petrochemical and natural gas industries (ISO 13709:2003) (Bơm ly tâm cho ngành công nghiệp dầu khí, hóa dầu và khí thiên nhiên (ISO 13709:2003)).

ISO 15607, Specification and qualification of welding procedures for metallic materials – General rules (ISO 15607:2003) (Đặc điểm kỹ thuật và đánh giá phẩm chất của quy trình hàn vật liệu kim loại – Quy tắc chung).

ISO 15609-1, Specification and qualification of welding procedures for metallic materials – Welding procedure specification – Part 1: Arc welding (ISO 15609-1:2004) (Đặc điểm kỹ thuật và đánh giá phẩm chất của quy trình hàn vật liệu kim loại – Chi tiết kỹ thuật quy trình hàn – Phần 1: Hàn hồ quang).

ISO 15614-1, Specification and qualification of welding procedures for metallic materials – Welding procedure test – Part 1: Arc and gas welding of steels and arc welding of nickel and nickel alloys (ISO 15614-1:2004) (Đặc điểm kỹ thuật và đánh giá phẩm chất của quy trình hàn vật liệu kim loại – Kiểm tra quy trình hàn – Phần 1: Hàn hồ quang và hàn hơi thép; hàn hồ quang niken và hợp kim niken alloys).

IEC 60079-4, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 4: Method of test for ignition temperature (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 4: Phương pháp thử nhiệt độ đánh lửa).

IEC 60079-5, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 5: Powder filling “q” (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 5: Phủ bột “q”).

IEC 60079-6, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 6: Oil immersion “o” (Thiết bị điện cho môi trường khí gây  nổ – Phần 6: Ngâm dầu “o”).

IEC 60079-11, Explosive atmospheres – Part 11: Equipment protection by intrinsic safety “i” (Môi trường gây nổ – Phần 11: Bảo vệ thiết bị bằng khả năng tự đảm bảo an toàn “i”).

IEC 60079-13, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 13: Construction and use of rooms or buildings protected by pressurization (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 13: Xây dựng và sử dụng phòng hoặc công trình xây dựng được bảo vệ bằng điều tiết áp suất).

IEC 60079-15, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 15: Construction, test, and marking of type of protection “n” electrical apparatus (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phấn 15: Xây dựng, kiểm tra, và ghi nhãn thiết bị điện có bảo vệ loại “n”).

IEC/TR 60079-16, Electrical apparatus for explosive gas astmosphere – Part 16: Artificial ventilation for the protection of analyzer(s) houses (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 16: Thông gió tự nhiên để bảo vệ phòng phân tích).

IEC 60079-19, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 19: Repair and overhaul for apparatus used in explosive atmospheres (other than mines or explosives) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 19: Sửa chữa và đại tu thiết bị sử dụng trong môi trường gây nổ (không phải mìn hoặc chất nổ)).

IEC/TR 3 60079-20, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 20: Data for flammable gases and vapours, relating to the use of electrical apparatus (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 20: Dữ liệu khí và hơi dễ cháy liên quan đến sử dụng thiết bị điện).

IEC 60079-27, Electrical apparatus for explosive gas atmospheres – Part 27: Fieldbus intrinsically safe concept (FISCO) and Fieldbus non-incendive concept (FNICO) (Thiết bị điện cho môi trường khí gây nổ – Phần 27: Phương án bảo vệ cháy nổ FISCO và FNICO đối với mạng điều khiển Fieldbus).

IEC 60079-5-54, Electrical installations of buildings – Part 5-54: Selection and erection of electrical equipment – Earthing arrangements, protective conductors and protective bonding conductors (Lắp đặt điện cho công trình xây dựng – Phần 5-54: Lựa chọn và lắp đặt thiết bị điện – Bố trí nối đất, dây dẫn bảo vệ và dây dẫn liên kết bảo vệ).

  1. Thuật ngữ và định nghĩa

Trong tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa sau:

3.1. Vận hành bất thường (Abnormal operation)

Vận hành nhà máy để phục vụ tham quan nhà máy, sản xuất và thải bỏ các sản phẩm không đúng yêu cầu kỹ thuật, kể cả việc vận hành thiết bị sản xuất bị hỏng hoặc đang được bảo dưỡng là các phương thức vận hành bất thường và không được coi là sự cố.

3.2. Sự kiện bất ngờ (Accidental event)

Sự kiện phát sinh từ tình huống mất kiểm soát hoặc không nằm trong kế hoạch gây hậu quả về mặt an toàn và/hoặc môi trường.

3.3. Hàng rào ranh giới (Boundary)

Đường ranh giới trên đất liền hoặc mặt nước mà trong phạm vi đường ranh giới đó người vận hành/người chủ sở hữu nhà máy có toàn quyền  kiểm soát hoặc sử dụng cơ sở vật chất của nhà máy.

3.4. Đê hoặc tường ngăn (Bund or bund wall)

Cấu trúc không thấm nước, có khả năng chịu được áp suất tĩnh và nhiệt độ của chất lỏng tràn, được dựng lên bao quanh một khu vực để ngăn chặn sự tràn hydrocacbon, thường gắn liền với khu vực tồn chứa.

3.5. Khí ngưng tụ (Condensate)

Hydrocacbon dạng lỏng được tạo ra từ quá trình phân tách sơ bộ khí thiên nhiên tại mỏ.

CHÚ THÍCH: Khí thiên nhiên ngưng tụ chủ yếu bao gồm pentan và các cấu tử nặng hơn, mặc dù có thể có một lượng nhất định propan và butan hòa tan trong hỗn hợp này.

3.6. Bồn chứa chính (Container – primary container)

Bồn chứa trực tiếp chứa LNG, ví dụ như:

– Bồn chứa lạnh của bể chứa đơn;

– Bồn chứa lạnh của bể chứa hình cầu;

– Bồn chứa lạnh bên trong của bể chứa kép, bể chứa tổ hợp hoặc bể chứa bê tông thấp nhiệt;

– Vách chịu nhiệt độ siêu lạnh của bể vách.

3.7. Bồn chứa phụ (Secondary container)

Bồn chứa tiếp xúc với LNG trong trường hợp bồn chứa chính bị hỏng, bao gồm:

– tường ngăn của các bể chứa đơn, bể chứa kép, và bể chứa hình cầu;

– bồn chứa ngoài của bể chứa tổ hợp hoặc bể chứa bê tông thấp nhiệt;

– lớp bê tông bao ngoài của bể vách.

3.8. Kho cảng LNG trên bờ thông thường (Conventional onshore LNG terminal)

Kho cảng xuất hoặc tiếp nhận LNG trên bờ được trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho việc giao nhận LNG với các phương tiện chuyên chở LNG đường biển.

CHÚ THÍCH: Cơ sở vật chất phục vụ việc giao nhận LNG được đặt ở bến cảng hoặc ở vùng biển khuất gió, có nơi neo đậu chắn chắn hoặc có cầu tàu đủ khả năng chịu tải trọng để phương tiện chuyên chở LNG đường biển chứa đầy hàng cập cảng và thả neo an toàn. Cầu tàu được liên kết với bờ bằng cơ cấu giá đỡ, trụ đỡ, đảm bảo thực hiện giao nhận LNG, các dịch vụ phụ trợ được dễ dàng, đảm bảo lối ra vào an toàn cho nhân viên thực hiện nhiệm vụ vận hành và bảo dưỡng.

3.9. Động đất OBE – động đất cho phép vận hành nhà máy (Operating basis earthquake)

Động đất mạnh xảy ra ở mức độ mạnh nhất mà không gây ra bất kỳ thiệt hại nào, có thể khởi động lại và tiếp tục vận hành nhà máy một cách an toàn.

CHÚ THÍCH: Loại động đất này với khả năng xảy ra cao hơn sẽ không gây thiệt hại vật chất đối với công trình và an toàn công cộng được đảm bảo.

3.10. Động đất SSE – động đất bắt buộc ngừng sản xuất (Safe shutdown earthquake)

Động đất ở mức độ mạnh nhất xảy ra theo đó các cơ cấu và tính năng dự phòng an toàn cơ bản được bảo toàn.

CHÚ THÍCH: Loại động đất này với khả năng xảy ra thấp hơn có thể gây ra tổn thất lâu dài, tuy nhiên không gây thiệt hại cho sự toàn vẹn tổng thể của công trình. Công trình không được vận hành trở lại khi chưa có báo cáo kiểm tra chi tiết và kết luận đánh giá hiện trạng.

3.11. Hệ thống ngắt khẩn cấp (Emergency shutdown system)

Hệ thống dừng toàn bộ công trình hoặc từng bộ phận riêng biệt một cách an toàn và hiệu quả để giảm đến mức thấp nhất thiệt hại lan truyền.

3.12. Khí dễ cháy (Flammable gases)

Khí hoặc hơi khi hòa trộn với không khí theo tỷ lệ nhất định sẽ tạo hỗn hợp cháy.

3.13. Tần suất (Frequency)

Số lần xuất hiện trên một đơn vị thời gian.

3.14. Mối hàn đặc biệt (Golden weld)

Mối hàn không thể thử áp lực do bản chất hoặc vị trí của mối hàn, và do vậy sẽ được kiểm tra không phá hủy mức độ cao để chứng nhận an toàn.

3.15. Mối nguy hiểm (Hazard)

Tính chất nguy hiểm của vật chất hoặc tình huống tự nhiên có nguy cơ gây tổn hại cho sức khỏe con người và/hoặc môi trường.

3.16. Khu vực ngăn tràn (Impounding area)

Khu vực gần với nguồn rò rỉ, nơi chất lỏng tràn ra từ bồn chứa hydrocacbon dạng lỏng có thể được ngăn chặn hoặc kiểm soát.

3.17. Bồn hứng chất lỏng tràn (Impounding basin)

Bồn chứa nằm trong phạm vi hoặc được nối với khu vực ngăn tràn hoặc khu vực thu gom chất lỏng chảy tràn, nơi hydrocacbon lỏng chảy tràn được thu gom, ngăn chặn và kiểm soát một cách an toàn.

3.18. Trạng thái giới hạn (Limit state)

Có hai loại trạng thái giới hạn được sử dụng trong thiết kế cấu trúc chịu tải trọng:

– Trạng thái giới hạn sử dụng (Serviceability limit state – SLS), được xác định trên cơ sở các tiêu chí áp dụng cho năng lực thực hiện chức năng hoặc tính bền dưới tác dụng lực thông thường;

– Trạng thái giới hạn bền (Ultimate limit state – ULS), được xác định trên cơ sở rủi ro hỏng hóc, dịch chuyển đàn hồi biên độ rộng, hoặc sức căng so với hỏng hóc dưới tác động của lực gia tăng.

3.19. Khí thiên nhiên hóa lỏng (Liquefied natural gas, LNG)

Khí thiên nhiên hóa lỏng được định nghĩa theo TCVN 8610 (EN 1160).

3.20. Kho cảng xuất LNG (LNG export terminal)

Nơi khí thiên nhiên được vận chuyển bằng đường ống từ một hay nhiều mỏ khí, được hóa lỏng, tồn chứa cho mục đích vận chuyển tiếp theo, thông thường bằng đường biển, đến các địa điểm khác.

CHÚ THÍCH: Kho cảng xuất LNG được trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho việc xuất LNG đường biển, và có các trạm/bến xuất LNG cho phương tiện chuyên chở LNG đường bộ (xe bồn), đường sắt (toa tàu hỏa), đường thủy (xà lan).

3.21. Nhà máy điều hòa nhu cầu LNG (LNG peak – shaving plant)

Các nhà máy LNG được kết nối với mạng lưới khí.

CHÚ THÍCH: Hàng năm trong giai đoạn nhu cầu sử dụng khí thấp, khí thiên nhiên được hóa lỏng và tồn chứa. LNG có thể được hóa hơi nhanh chóng khi nhu cầu sử dụng khí cao.

3.22. Kho cảng tiếp nhận LNG (LNG receiver terminal)

Nơi các tàu chở LNG xuất hàng, là nơi LNG có thể được tồn chứa trong các bể chứa, được hóa hơi và vận chuyển tới mạng lưới khí hoặc các hộ tiêu thụ khí.

CHÚ THÍCH: Kho cảng tiếp nhận LNG được trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho việc tiếp nhận LNG đường biển, và có các trạm/bến xuất LNG cho phương tiện chuyên chở LNG đường bộ (xe bồn), đường sắt (toa tàu hỏa), đường thủy (xà lan).

3.23. Nhà máy LNG vệ tinh (LNG satellite plant)

Nhà máy LNG vệ tinh được kết nối với mạng lưới khí hoặc các hộ tiêu thụ khí. LNG được cung cấp bằng các phương tiện chuyên chở LNG đường bộ (xe bồn), đường sắt (toa tàu hỏa), đường thủy (xà lan). LNG được tồn chứa trong các thiết bị chịu áp lực được cách nhiệt, được hóa hơi và vận chuyển tới mạng lưới khí.

3.24. Khí thiên nhiên dạng lỏng (Natural gas liquid, NGL)

Chất lỏng bao gồm các hydrocacbon nhẹ (chủ yếu từ etan đến hexan và cấu tử nặng hơn) được ngưng tụ từ khí thiên nhiên trước khi hóa lỏng.

3.25. Vận hành bình thường (Normal operation)

Vận hành bao gồm vận hành gián đoạn như là giao nhận LNG, khởi động máy móc thiết bị nhà máy, bảo dưỡng, dừng sản xuất theo kế hoạch, chạy thử.

3.26. Người vận hành (Operator/occupier)

Nhân viên chịu trách nhiệm vận hành nhà máy.

3.27. Chủ đầu tư (Owner)

Người chịu trách nhiệm thiết kế, xây dựng và lắp đặt công trình nhà máy an toàn.

3.28. Hệ số ổn định khí quyển PASQUILL (PASQUILL atmospheric stability factors)

Các hệ số ổn định khí quyển PASQUILL được xác định như là một hàm số của tốc độ gió, bức xạ nhiệt, bao gồm sáu hệ số sau đây:

– A: không ổn định mức độ cao;

– B: không ổn định mức độ vừa phải;

– C: không ổn định mức độ thấp;

– D: trung bình;

– E: ổn định mức độ thấp;

– F: ổn định mức độ vừa phải.

3.29. Khả năng có thể xảy ra (Probability)

Số trên thang chia từ 0 đến 1 thể hiện khả năng có thể xảy ra một sự kiện.

3.30. Hệ thống dừng hoạt động sản xuất (PSD (Process Shut down) system)

Hệ thống dừng hoạt động các bộ phận riêng biệt trong nhà máy một cách an toàn và hiệu lực vì lý do liên quan đến quy trình sản xuất.

3.31. Rủi ro (Risk)

Tổng hợp các hậu quả và tần suất các mối nguy hiểm cụ thể xảy ra trong một giai đoạn xác định trong trường hợp nhất định.

3.32. Hệ thống quản lý an toàn (Safety Management System)

Quy trình quản lý xác định và giám sát sơ đồ tổ chức, các trách nhiệm, các thủ tục, các quy trình và các nguồn tài nguyên cho việc thiết lập và thực thi chính sách phòng ngừa tai nạn chủ yếu.

3.33. Mức độ toàn vẹn an toàn (Safety Integrity Level, SIL)

Mức độ toàn vẹn an toàn theo yêu cầu của hệ thống liên quan đến an toàn quy định trong EN 61508.

3.34. Khu vực thu gom chất lỏng tràn (Spill collection area)

Khu vực sản xuất LNG hoặc giao nhận LNG, nơi có thể ngăn chặn và kiểm soát được rò rỉ, thông thường bằng cách sử dụng bờ đá và/hoặc gạch lát có độ dốc nhất định.

3.35. Bể chứa (Tank)

Thiết bị tồn chứa LNG.

CHÚ THÍCH: Các loại bể chứa khác nhau được mô tả trong Phụ lục H.

3.36. Khu vực giao nhận LNG (Transfer area)

Khu vực có hệ thống đường ống vận chuyển chất lỏng hoặc khí dễ cháy vào hoặc ra khỏi nhà máy, hoặc hệ thống khớp nối đường ống được nối vào hoặc tháo ra định kỳ thường xuyên.

3.37. Mô hình thực nghiệm (Validated model)

Mô hình toán học mà cơ sở khoa học của nó được chấp nhận một cách chắc chắn và được chứng minh là cung cấp được thông tin toán học đầu ra cho vấn đề toán học liên quan, và được trình bày để bao quát toàn bộ phạm vi sử dụng của mô hình đã được hiệu chỉnh hoặc kiểm tra bằng những dữ liệu hoặc kết quả kiểm tra thực tế.

  1. An toàn và môi trường

4.1. Yêu cầu chung

Các giai đoạn thiết kế, cung cấp thiết bị, xây dựng và vận hành phải tuân thủ các yêu cầu của hệ thống quản lý Chất lượng, Sức khỏe, An toàn và Môi trường được mô tả trong bộ tiêu chuẩn TCVN ISO 9000 và TCVN ISO 14000.

Ngoài ra, mỗi giai đoạn phải được kiểm soát bởi hệ thống quản lý an toàn được phê duyệt.

4.2. Tác động môi trường

4.2.1. Đánh giá tác động môi trường

Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi dự án, phải thực hiện đánh giá tác động môi trường sơ bộ (EIA) đối với địa điểm dự kiến theo các quy định, quy chuẩn hiện hành. Cần phải xem xét các đặc điểm môi trường tại địa điểm công trình được lưu trữ chính thức.

Khi địa điểm công trình được lựa chọn, phải thực hiện đánh giá tác động môi trường chi tiết.

Tất cả phát thải từ nhà máy như là chất rắn, chất lỏng (bao gồm cả nước), chất khí (bao gồm cả chất có mùi độc hại) phải được xác định và đo để đảm bảo các chất phát thải này sẽ không gây hại cho người, tài sản, động thực vật. Quy định này không chỉ đối với phát thải thông thường, mà còn đối với phát thải bất thường.

Trước hoặc trong quá trình vận hành, phải thiết lập quy trình quản lý phát thải. Phải đưa ra những biện pháp phòng ngừa trong việc xử lý vật chất độc hại và phải thường xuyên được cập nhật bởi người vận hành.

Phải đánh giá tác động môi trường do xây dựng, vận hành và phải loại bỏ, giảm thiểu hoặc hạn chế các hoạt động không mong muốn. Bảng danh mục kiểm tra sau đây thể hiện các mục chính:

– Tăng dân số, lâu dài và tạm thời;

– Tăng lưu lượng giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy;

– Tăng độ ồn, tiếng ồn đột ngột và không liên tục;

– Tăng mức độ rung động, đột ngột và không liên tục;

– Tăng thời gian làm việc ban đêm, ảnh hưởng của ánh sáng và ánh sáng không liên tục;

– Đốt/xả khí, gián đoạn và/hoặc liên tục;

– Nước ấm hoặc nước lạnh.

4.2.2. Phát thải nhà máy

Khi thiết kế phải lập kế hoạch để loại bỏ, giảm thiểu hoặc chỉ phát thải những chất không gây hại từ các hoạt động chạy thử, vận hành, bảo dưỡng, và phải thiết lập giới hạn cho phép về lượng và nồng độ của chất thải.

4.2.3. Kiểm soát phát thải

Phải kiểm soát các mục sau đây một cách an toàn:

– Các sản phẩm cháy;

– Thoát khí thông thường hoặc bất thường;

– Đốt/xả khí thông thường hoặc bất thường;

– Thải bỏ dung môi tách khí axit;

– Thải bỏ tác nhân xử lý thủy ngân đã sử dụng (vì quá trình xử lý loại bỏ thủy ngân là quá trình không tái sinh, nên phải tồn chứa sau đó xử lý chất hấp thụ đã qua sử dụng hoặc thuê đơn vị có giấy phép xử lý chất thải);

– Nước lẫn dầu ngưng tụ trong quá trình tái sinh làm khô hoặc từ các máy móc thiết bị;

– Tạp chất hydrocacbon trong nước làm mát từ ống trao đổi nhiệt bị rò rỉ trong trường hợp dùng thiết bị làm mát bằng nước;

– Thải bỏ các phế phẩm (bao gồm dầu thải và các hợp chất hữu cơ chứa clo);

– Nước dùng trong thiết bị hóa hơi;

– Hóa chất tạo mùi.

4.2.4. Đốt/xả khí

Các nhà máy được thiết kế trên nguyên tắc không sử dụng đốt/xả khí liên tục. Phải tính toán dự phòng khi thiết kế và vận hành để đảm bảo các dòng khí thải, ở những nơi có thể, đều được thu hồi và không được cho thải ra đường đốt/xả khí trong quá trình nhà máy vận hành bình thường.

4.2.5. Kiểm soát tiếng ồn

Thiết kế nhà máy phải xem xét ảnh hưởng của tiếng ồn đối với nhân viên nhà máy và đối với cộng đồng dân cư xung quanh nhà máy.

Khuyến cáo thiết kế nhà máy nên tuân theo TCVN ISO 15664.

4.2.6. Đường giao thông bên ngoài nhà máy

Đường giao thông bên ngoài gần nhà máy LNG phải được liệt kê trong bản đánh giá tác động môi trường, ghi rõ lưu lượng giao thông hiện tại và dự đoán mức tăng trong tương lai khi nhà máy đi vào hoạt động. Phải kiểm tra các mục cụ thể sau đây:

– Đường bộ (đường ôtô, đường sắt);

– Đường thủy (đường biển, đường sông, kênh đào);

– Đường hàng không, vùng lân cận sân bay.

4.2.7. Sự thoát nước

Phải nghiên cứu tác động của việc thoát nước (nhiệt độ, dòng chảy, gió,…).

4.3. Yêu cầu chung về an toàn

4.3.1. Tiếp cận khái niệm an toàn

Công trình LNG phải được thiết kế đảm bảo mức độ rủi ro được chấp nhận (xem Phụ lục L) đối với đời sống cũng như tài sản bên trong và ngoài phạm vi nhà máy. Để đảm bảo mức độ an toàn cao trong các thiết bị nhà máy LNG và khu vực xung quanh, an toàn phải được xem xét trong toàn bộ giai đoạn của dự án: thiết kế, xây dựng, khởi động, vận hành, chạy thử. Cụ thể là, phải thực hiện đánh giá mối nguy hiểm, xem 4.4, và phải thực thi các biện pháp an toàn được yêu cầu để đảm bảo mức độ rủi ro chấp nhận được.

EN 13645 trình bày ví dụ về đánh giá rủi ro giới hạn.

4.3.2. Công trình và khu vực xung quanh

4.3.2.1. Mô tả công trình

Phải có bản mô tả chức năng của toàn bộ công trình và/hoặc của từng quy trình sản xuất để phục vụ cho việc đánh giá an toàn.

4.3.2.2. Nghiên cứu hiện trường

Nghiên cứu hiện trường địa điểm công trình bao gồm:

– Khảo sát đất;

– Nghiên cứu địa hình để có thể đánh giá sự phân tán chất lỏng và đám mây chất khí;

– Nghiên cứu thực vật để có thể xác định cụ thể nguy cơ gây cháy do thực vật;

– Nghiên cứu nước của khu đất;

– Nghiên cứu xác định nguồn dòng điện rò (ví dụ nguồn điện phát ra từ đường dây cao thế, đường sắt);

– Nghiên cứu môi trường sinh vật biển và luồng biển;

– Nghiên cứu nhiệt độ và chất lượng nước biển;

– Nghiên cứu điều kiện thủy triều;

– Nghiên cứu sóng mạnh, lũ lụt (sóng thần, vỡ đê, …);

– Khảo sát cơ sở hạ tầng xung quanh (ví dụ công trình công nghiệp, khu vực xây dựng, phương tiện thông tin liên lạc);

– Khu vực hoạt động, các khoảng cách an toàn khi phương tiện chuyên chở LNG đang hoạt động trong cảng biển và tại nơi neo đậu (xem Điều 5 và TCVN 8613 (EN 1532))

Khảo sát đất phải bao gồm:

– Khảo sát địa kỹ thuật để có thể xác định đặc tính cơ địa của đất ngầm;

– Khảo sát địa chất và địa kiến tạo.

Phải kiểm tra đầy đủ chi tiết các đặc điểm địa chất của khu vực để hiểu được các quá trình tự nhiên hình thành nên khu vực, cũng như là xu hướng hoạt động địa chấn trong tương lai.

Phải thực hiện khảo sát cụ thể hơn tại hiện trường và khu vực liền kề để phát hiện sự có mặt của vùng đá vôi, thạch cao, đất sét có tính trương nở, lớp trầm tích muối tan, sự hóa lỏng của đất, sự dịch chuyển khối, … và phải đánh giá tác động liên quan của những hiện tượng này.

Những hiện tượng này không được phép xảy ra dưới bể chứa và/hoặc nền móng của các thiết bị trừ khi có thể chứng minh được rằng đã tiến hành các biện pháp phù hợp để giải quyết những vấn đề có nguy cơ xảy ra.

4.3.2.3. Khí hậu học

Nghiên cứu khí hậu phải bao gồm các mục sau:

– Sức gió và hướng gió bao gồm tần suất và cường độ của bão;

– Nhiệt độ:

– Độ ổn định khí quyển;

– Phạm vi và tốc độ thay đổi của áp suất khí quyển;

– Lượng mưa, tuyết, băng;

– Đặc tính ăn mòn của không khí;

– Nguy cơ lũ lụt;

– Tần suất sét đánh;

– Độ ẩm tương đối.

Tùy điều kiện địa phương cụ thể có thể yêu cầu các thẩm tra khác nhau.

4.3.2.4. Địa chấn học

Động đất được xác định theo gia tốc phương thẳng đứng và nằm ngang của mặt đất. Các gia tốc này được mô tả bởi:

– Dải phân bố tần suất;

– Biên độ.

Phải thực hiện phân tích động đất tại hiện trường cụ thể. Phân tích này phải bao gồm các đánh giá về nguy cơ xảy ra động đất, sóng thần, sụt lở đất, núi lửa hoạt động. Phân tích này phải được trình bày dưới dạng Báo cáo địa chấn trong đó các đặc điểm địa chất và địa chấn của công trình và khu vực xung quanh, cũng như thông tin về địa kiến tạo đều phải được xem xét. Báo cáo này phải đưa ra kết luận về tất cả các thông số địa chấn cần thiết cho việc thiết kế.

Quy mô của khu vực phải thẩm tra phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của vùng đất xung quanh công trình, các điều kiện địa chất, địa kiến tạo có được từ kết quả khảo sát đất, xem 4.3.2.2. Thông thường khoảng cách được giới hạn nhỏ hơn 320 km tính từ hiện trường địa điểm công trình, tuy nhiên trong một số trường hợp có thể bao gồm toàn bộ vùng kiến tạo. (xem [23])

Phải thực hiện phân tích cấp độ hai trong phạm vi 80 km kể từ hiện trường (thẩm tra địa chấn – kiến tạo khu vực) nhằm phát hiện sự có mặt của đứt gãy địa chất đang hoạt động. (xem [23])

Những thẩm tra này nêu đầy đủ các nghiên cứu, xem xét, đánh giá các trận động đất trong lịch sử đã gây ảnh hưởng, hoặc nhiều khả năng đã gây ảnh hưởng tới địa điểm xây dựng.

Trong trường hợp có đứt gãy địa chấn ở vùng phụ cận ngay sát với địa điểm xây dựng, các điều tra tiếp theo phải được tiến hành để đánh giá khả năng hoạt động của các đứt gãy này. Đối với các đứt gãy không thể xác nhận là kém hoạt động thì không được phép có mặt trong địa điểm xây dựng hoặc trong phạm vi được xác định bởi hình thái học đất.

Để có thông tin chi tiết về điều tra địa chấn và định dạng dải phân bố đáp ứng, tham khảo EN 1998-1 và EN 1998-5.

Các nghiên cứu địa chất, kiến tạo, địa chấn học giúp thiết lập:

– Động đất SSE;

– Động đất OBE.

Phải thiết lập những điều sau:

– Mang tính xác suất, động đất gây ra dịch chuyển mặt đất với sự tái diễn trung bình bằng thời gian tạm ngừng hoạt động tối thiểu 5 000 đối với động đất SSE và 475 năm đối với động đất OBE;

– Mang tính tất định, giả sử rằng động đất tương tự với những trận động đất mạnh nhất được biết trong lịch sử có khả năng xảy ra trong tương lai với vị trí tâm động đất gây ra tác động mạnh nhất về mặt cường độ đến địa điểm xây dựng, đồng thời vẫn tương thích với dữ liệu địa chất và địa chấn.

CHÚ THÍCH: Cả động đất OBE và SSE đều chỉ ra các giới hạn tác động cụ thể của những cơn địa chấn cường độ mạnh gây ra đối với hệ thống, được nêu ra ở 4.5.2.2.

4.3.2.5. Địa điểm xây dựng

Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi dự án, phải thực hiện việc đánh giá địa điểm xây dựng nhằm đảm bảo sự phù hợp của các phương án lựa chọn địa điểm với sự phát triển của khu vực lân cận. Đánh giá tối thiểu phải đề cập đến các vấn đề sau:

– Sự phát triển khu dân cư;

– Sự phát triển trung tâm thương mại, khu giải trí;

– Sự phát triển của trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão, sân vận động, …;

– Sự phát triển công nghiệp;

– Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.

Khi địa điểm xây dựng đã được lựa chọn, phải thực hiện đánh giá chi tiết địa điểm xây dựng. Phạm vi và phương pháp đánh giá địa điểm xây dựng phải đề cập đến vấn đề tồn kho hóa chất nguy hiểm trong nhà máy và sự có mặt và quy mô của các công trình xây dựng hiện tại liền kề và đã có kế hoạch phát triển trong tương lai, đồng thời phải tuân thủ các quy định của nhà nước và địa phương.

– Đánh giá được cập nhật định kỳ theo thông lệ và khi xảy ra những thay đổi hoặc biến đổi lớn;

– Sự phát triển xung quanh nhà máy được kiểm soát để giảm đến mức thấp nhất sự phát triển không phù hợp sau này.

Hướng dẫn về các tiêu chí công nhận đánh giá mang tính xác suất đối với địa điểm xây dựng công trình được trình bày ở Bảng L.2. Các tiêu chí công nhận tối thiểu này có thể được áp dụng trong trường hợp nhà máy được xây dựng tại quốc gia không ban hành các tiêu chí này.

4.4. Đánh giá mối nguy hiểm

4.4.1. Yêu cầu chung

Phải thực hiện đánh giá mối nguy hiểm trong quá trình thiết kế nhà máy và cũng nên thực hiện khi có sự thay đổi hoặc biến đổi lớn.

Để có thông tin về các yêu cầu và phương pháp luận tham khảo các Phụ lục trình bày ví dụ về dải tần suất, phân loại hậu quả và các mức độ rủi ro. Tuy nhiên tại mỗi quốc gia hay công ty đều có sự thay đổi về các tiêu chí công nhận và các ví dụ trình bày trong Phụ lục J, K, L phải được xem như là các yêu cầu tối thiểu. Nếu có các yêu cầu nghiêm ngặt hơn ở một quốc gia hay địa phương thì sẽ được áp dụng để thay thế các yêu cầu tối thiểu đó.

4.4.2. Đánh giá

4.4.2.1. Phương pháp luận

Phương pháp luận đánh giá mối nguy hiểm có thể tiếp cận theo phương pháp tất định và/hoặc phương pháp xác suất.

Tiếp cận phương pháp tất định bao gồm:

– Liệt kê các mối nguy hiểm tiềm tàng có nguồn gốc nội tại và ngoại lai;

– Thiết lập các mối nguy hiểm nhiều khả năng xảy ra;

– Xác định hậu quả;

– Biện luận các giải pháp nâng cao an toàn cần thiết để hạn chế các hậu quả.

Tiếp cận phương pháp xác suất bao gồm:

– Liệt kê các mối nguy hiểm tiềm tàng có nguồn gốc nội tại và ngoại lai;

– Xác định hậu quả của từng loại mối nguy hiểm và phân loại chúng (xem ví dụ trong Phụ lục K);

– Thu thập dữ liệu tỷ lệ hỏng hóc;

– Xác định xác suất hoặc tần suất của từng loại mối nguy hiểm;

– Tổng hợp tần suất xảy ra tất cả các loại mối nguy hiểm đối với một loại hậu quả và phân loại phạm vi tần suất cho loại hậu quả đó (xem ví dụ trong Phụ lục J);

– Phân loại mối nguy hiểm theo phạm vi tần suất và loại hậu quả, nhằm mục đích xác định mức độ rủi ro (xem ví dụ trong Phụ lục L).

Trong trường hợp việc xác định rủi ro đưa ra kết quả “mức rủi ro không thể chấp nhận” (ví dụ như rủi ro mức độ 3 trong Phụ lục L); phải thay đổi thiết kế nhà máy hoặc quy trình vận hành và việc đánh giá phải thực hiện lại cho đến khi không còn kết quả “mức rủi ro không thể chấp nhận”. Trong trường hợp việc xác định rủi ro đưa ra kết quả mức rủi ro bình thường, có thể chấp nhận (ví dụ rủi ro mức độ 1 trong Phụ lục L), thì không cần thiết phải thực hiện thêm đánh giá. Đối với rủi ro đã xác định mức độ nhưng có yêu cầu giảm mức độ (ví dụ rủi ro mức độ 2 trong Phụ lục L), phải xem xét các biện pháp an toàn bổ sung để giảm mức độ rủi ro xuống mức thấp nhất có thể.

Đánh giá mối nguy hiểm có thể dựa trên các phương pháp truyền thống như:

– Đánh giá rủi ro trong vận hành (HAZOP);

– Phân tích ảnh hưởng chế độ vận hành khi có sự cố (FMEA);

– Phương pháp cấu trúc cây sự kiện (ETM);

– Phương pháp cấu trúc cây lỗi hỏng (FTM).

Quy trình đánh giá mối nguy hiểm phải được tiến hành trong tất cả các giai đoạn của quá trình thiết kế. Khuyến cáo thực thi việc đánh giá trong giai đoạn đầu dự án hoặc khi thay đổi thiết kế, điều này cho phép cải thiện những thiết kế không được chấp thuận một cách hiệu quả nhất về chi phí.

Các tiêu chí công nhận tối thiểu của phương pháp đánh giá theo xác suất đưa ra trong Bảng L.1 dựa trên rủi ro đối với nhân viên làm việc trong nhà máy. Các phân loại so sánh đối với lượng hydrocacbon lớn phát thải cũng được đưa ra trong hướng dẫn ở Phụ lục K. Các phương pháp đánh giá rủi ro khác có thể sử dụng để đánh giá sự phù hợp của thiết kế nhà máy, quá trình sản xuất và đánh giá rủi ro các mối nguy hiểm. Tuy nhiên rủi ro tối thiểu đối với nhân viên phải được đánh giá và phê duyệt khi thiết kế nhà máy và khi có thay đổi lớn.

Phân tích rủi ro và có các kết luận phải không được thỏa hiệp với các ứng dụng kỹ thuật hiện đại.

4.4.2.2. Xác định mối nguy hiểm có nguồn gốc bên ngoài

Phải thực hiện các nghiên cứu để xác định những mối nguy hiểm phát sinh từ bên ngoài nhà máy. Những mối nguy hiểm loại này có thể là do:

– Phương tiện chuyên chở LNG tiếp cận nơi neo đậu với tốc độ hoặc góc hướng vượt quá giới hạn cho phép;

– Khả năng xảy ra va chạm giữa cầu tàu và/hoặc phương tiện chuyên chở LNG ở nơi neo đậu do tàu trọng tải lớn đi ngang qua;

– Tác động của vật phóng ra và hậu quả của va chạm (tàu biển, xe ô tô, máy bay, …);

– Thiên tai (sét, lũ lụt, động đất, thủy triều lớn, băng trôi, sóng thần, …);

– Bắt cháy do sóng vô tuyến năng lượng cao;

– Vùng lân cận với sân bay và/hoặc đường băng;

– “Hiệu ứng domino” bắt nguồn từ cháy và/hoặc nổ ở công trình liền kề;

– Đám mây khí trôi dạt dễ cháy, độc hại hoặc gây ngạt;

– Nguồn gây cháy thường trực như là đường dây điện cao thế (hiệu ứng điện hóa);

– Vùng lân cận với bất kỳ nguồn gây cháy không kiểm soát được ở bên ngoài.

4.4.2.3. Xác định mối nguy hiểm có nguồn gốc bên trong

a) Nguy hiểm bắt nguồn từ LNG

Tất cả thiết bị bao gồm hệ thống giao nhận trên phương tiện chuyên chở LNG sẽ được xét đến việc hao hụt LNG hoặc khí thiên nhiên. Để đơn giản hóa việc nghiên cứu, có thể thiết lập các kịch bản sau.

Các kịch bản này phải được xác định rõ về mặt:

– Khả năng hoặc tần suất xảy ra mối nguy hiểm;

– Vị trí rò rỉ;

– Bản chất của môi chất (LNG hay khí, xác định rõ nhiệt độ);

– Tốc độ và khoảng thời gian xảy ra rò rỉ;

– Điều kiện thời tiết (tốc độ và hướng gió, sự ổn định khí quyển, nhiệt độ môi trường, độ ẩm tương đối);

– Tính chất nhiệt và địa hình khu đất (bao gồm cả khu vực ngăn tràn);

– Cấu trúc thép có thể bị giòn do tiếp xúc với nhiệt độ thấp hoặc nhiệt độ siêu lạnh. Với những trường hợp cụ thể, khi một lượng LNG bị lẫn vào nước, có thể xảy ra sự quá áp không gây cháy; hiện tượng này được gọi là sự chuyển pha nhanh (RPT). Tham khảo TCVN 8610 (EN 1160).

Các kịch bản cụ thể cho các loại bồn chứa khác nhau được liệt kê trong Bảng 1.

Bảng 1 – Kịch bản trong đánh giá mối nguy hiểm được xem xét như là hàm của các loại bồn chứa

Loại bồn chứadTất cả bằng kim loại hoặc chỉ phần mái bằng kim loạiBê tông dự ứng lực (bao gồm mái bê tông gia cường)
Đơna
Képb
Tổ hợpbc
Váchbc
Bê tông chịu lạnh sâubc
Hình cầua
Chôn ngầm dưới đấtbc
Các kịch bản được xem xét:

a) Trong trường hợp bồn chứa chính gặp sự cố, kích thước bồn cấp nước chữa cháy tương ứng với khu vực ngăn tràn.

b) Trong trường hợp mái bồn chứa gặp sự cố, kích thước bồn cấp nước chữa cháy tương ứng với bồn chứa phụ.

c) Phần mái bị hỏng không được xét đến đối với những bồn chứa loại này trừ khi được nêu rõ trong phân tích rủi ro.

d) Xem định nghĩa trong TCVN 8615-2 (EN 14620-2) và Phụ lục H

b) Nguy hiểm không liên quan đến LNG

Những nguyên nhân gây mối nguy hiểm không liên quan đến LNG sau đây phải được xem xét:

– Tồn chứa LPG và hydrocacbon nặng hơn;

– Xuất nhập đồng thời nhiều loại sản phẩm trên cầu tàu nhiều sản phẩm;

– Trao đổi thông tin giữa tàu và bờ kém;

– Giao thông nội bộ nhà máy trong khi xây dựng và vận hành;

– Rò rỉ các loại hóa chất độc hại khác, đặc biệt là môi chất lạnh dễ cháy;

– Vật phóng ra từ vụ nổ;

– Thiết bị sinh hơi nước, tạo áp lực;

– Các bộ nồi hơi, gia nhiệt lửa trực tiếp;

– Các bộ phận chuyển động quay;

– Các vật dụng, chất xúc tác, hóa chất (dầu FO, dầu bôi trơn, metanol,…);

– Chất gây ô nhiễm được tìm thấy trong khí nguyên liệu trong các nhà máy hóa lỏng;

– Các công trình điện;

– Các công trình bến cảng đi kèm với nhà máy LNG;

– Vấn đề an ninh (ví dụ: hành động xâm phạm, phá hoại);

– Tai nạn khi xây dựng và bảo dưỡng;

– Sự gia tăng tai nạn.

Sưu tầm và biên soạn bởi: https://inoxmen.com/

Mở Chat
1
Close chat
Xin chào! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website. Hãy nhấn nút Bắt đầu để được trò chuyện với nhân viên hỗ trợ.

Bắt đầu

error: Content is protected !!
Click để liên hệ